Giới thiệu trường

 LỊCH SỬ TRƯỜNG DẠY NGHỀ SỐ 9

 

I/ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH.

1/ TÓM TẮT LỊCH SỬ RA ĐỜI.

            Trong những năm chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ và ác liệt, cùng với nhân dân cả nước, Quân đội ta đã làm nên nhiều chiến công hiển hách, viết tiếp những trang sử vàng chói lọi hào hùng của Dân tộc, trong những chiến công to lớn đó có những đóng góp không nhỏ của đội ngũ cán bộ, chiến sỹ, nhân viên ngành hậu cần - kỹ thuật - quân y, những người đã làm công tác bảo đảm vật chất hậu cần kỹ thuât và bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội đánh thắng kẻ thù.

Việc bảo đảm một khối lượng vật chất hậu cần, kỹ thuật và quân y cho quân đội và các lực lượng tham gia kháng chiến đòi hỏi phải có lực lượng chuyên trách. Nắm vững đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước, có trình độ chuyên môn, có khả năng chiến đấu vũ trang khi cần thiết, cùng toàn dân và lực lượng vũ trang làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch, bảo toàn lực lượng, giữ vững độc lập chủ quyền của đất nước.

Trường Hậu cần – Trường kỹ thuật – Trường quân y của các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng trong toàn quân nói chung, Quân khu 9 nói riêng ra đời trên tinh thần đó.

Trong những năm 60 và những năm đầu 70 của thập kỷ XX; ba  trường được tồn tại tại ở khu vực Tỉnh cà Mau (gồm các huyện: dầm Dơi; Trần Văn Thời; Ngọc Hiển); sau Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trường Hậu cần – Kỹ thuật – Quân y về đứng chân trên địa bàn Tỉnh Tiền giang và Cần thơ.         

Từ năm 1980; Trường Hậu cần; trường kỹ thuật và trường Quân y được tách riêng; Trường Hậu cần toạ lạc tại thành cổ loa thuộc xã Tân Ngãi – Thị xã vĩnh long làm nhiệm vụ đào tạo nhân viên chuyên môn hậu cần gồm các ngành: Tài chính; Quản lý; Quân nhu; Doanh trại; Xăng dầu bổ sung cho các đơn vị trong quân khu và chiến trường K.

 Trường kỹ thuật toạ lạc tại khu vực sân bay vĩnh long thuộc phường 9 – Thị xã Vĩnh long làm nhiệm vụ đào tạo nhân viên chuyên môn kỹ thuật gồm các ngành: Lái xe ô tô; Lái xe tăng-thiết giáp; thợ sửa chữa ô tô; sửa chữa tàu thuyền; sửa chữa súng bộ binh; sửa chữa pháo mặt đất; pháo cao xạ; quân khí viên, bảo quản viên. Ngoài ra còn làm nhiệm vụ vận tải bảo đảm cho chiến trường K theo mênh lệnh của Bô Tư Lệnh Quân khu 9. Đến năm 1987 trường thông tin sát nhập vào trường kỹ thuật

 Trường quân y đóng quân trên địa bàn Thành Phố Cần Thơ – Tỉnh Hậu giang, làm nhiệm vụ đào tạo y sỹ; y tá và dược tá bổ sung cho các đơn vị.

Đến năm 1989, khi có Nghị quyết đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ VI về đổi mới, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường; thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn, trên cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện hiện có; đội ngũ giáo viên chuyên môn kỹ thuật (mà chủ yếu là ngành lái xe), cán bộ quản lý và thực tế nhu cầu của xã hội. Ban giám Hiệu trường kỹ thuật đã giao cho Đồng chí Phan Văn Lễ – chủ nhiệm khoa lái xe xây dựng đề án thành lập Câu lạc bộ kỹ thuật quốc phòng Cửu long và đến tháng 8/1989 Câu lạc bộ kỹ thuật quốc phòng Cửu long được thành lập, trực thuộc Trường Kỹ thuật trên cơ sở nền tảng của Khoa lái xe theo quyết định số :239/QĐ-QP ngày 31 tháng 8 năm 1989 Bộ Quốc Phòng (Đồng chí Thượng Tướng Đoàn Khuê- Thứ trưởng BQP-Tổng Tham Mưu trưởng ký thay) có nhiệm vụ :

1/ Huấn luyện kỹ thuật cơ bản về ô tô, mô tô, thông tin vô tuyến điện, điện tử, bắn súng cho hội viên Câu lạc bộ, phát triển trong hội viên môn thể thao ô tô, mô tô vô tuyến điện nghiệp dư, bắn súng và các môn thể thao ứng dụng.

2/ Đào tạo nhân viên chuyên môn kỹ thuật ngành ô tô, thông tin, cho Quân đội theo chỉ tiêu và yêu cầu của Bộ Quốc Phòng, đối tượng đào tạo là thanh niên trước lúc nhập ngũ, có đủ tiêu chuẩn tình nguyện nhập học và có đóng học phí.

3/ Đào tạo, bổ túc lái xe và thợ bảo dưỡng, sửa chữa ô tô, mô tô, khai thác và sửa chữa phương tiện thông tin vô tuyến điện cho các thành phần kinh tế và các cơ quan theo hợp đồng kinh tế giữa câu lạc bộ với các đơn vị  và cá nhân có nhu cầu .

Ngoài ra Câu lạc bộ có tổ chức hoạt động dịch vụ (có thu tiền) liên quan đến ô tô, mô tô, thông tin, bắn súng và quốc phòng có tính chất giáo dục theo đúng pháp luật

 Đầu năm 1991, do yêu cầu tinh giảm biên chế, trường Quân y sát nhập với trường Hậu cần, lấy phiên hiệu là trường Hậu cần, đóng quân tại Xã Tân ngãi – Thị xã Vĩnh long- Tỉnh Vĩnh long

 Tháng 3/1991 Tư lệnh Quân khu lại ra quyết định sát nhập trường Hậu cần, Quân y vào trường Kỹ thuật; Lấy phiên hiệu là Trường Hậu Cần-Kỹ thuật, đóng quân trên địa bàn sân bay Vĩnh Long thuộc phường 9 – Thị xã Vĩnh Long. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhân viên chuyên môn hậu cần, kỹ thuật, quân y bổ sung cho các đơn vị trong quân khu. Đồng thời đào tạo lái xe cho thanh niên trong khu vực đồng bằng sông cửu long có nhu cầu.

 Đầu những năm 90, thực hiện chủ trương của Đảng về chuyển đổi cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, tình hình thế giới có nhiều biến đổi phức tạp, hệ thống XHCN ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, đất nước ta đứng trước những khó khăn và thách thức mới, đặc biệt là vấn đề việc làm và đời sống của nhân dân. Trong khi hàng năm có hàng ngàn quân nhân hết hạn nghĩa vụ quân sự, trở về địa phương không có việc làm. Trước tình hình đó Đảng uỷ Ban Giám Hiệu đã giao cho đồng chí: Phan Văn Lễ – Phó Hiệu trưởng nhà trường một lần nữa xây dựng đề án thành lập Trung tâm xúc tiến việc làm, để thực hiện chính sách cho bộ đội xuất ngũ và đến tháng 12/1993: Trung tâm xúc tiến việc làm được thành lập, trực thuộc Trường Hậu cần-kỹ thuật Quân khu 9, theo quyết định số: 782/ QĐQP ngày 21 tháng 12 năm 1993 của Bộ Quốc Phòng do thứ trưởng Đào Đình Luyện ký. Trung tâm có nhiệm vụ cụ thể sau:

1/ Dạy nghề cho HSQ-BS, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, CNVQP xuất ngũ, thôi việc, con em cán bộ Quân đội của đơn vị trong địa bàn, con em thương binh Liệt sỹ và nhân dân lao động theo quy định của BQP.

2/ Cung ứng lao động (sau khi học nghề) cho các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, được phép tổ chức lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài đúng nghị định 370/HĐBT và quy chế của BQP.

3/ Tiếp nhận và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp các thành phần kinh tế  và hộ gia đình.

4/ Kết hợp sản xuất vừa và nhỏ, tăng thu nhập cho trung tâm để đầu tư trang thiết bị và cải thiện đời sống cho cán bộ và nhân viên.

 Năm 1998 tiếp tục thực hiện việc tinh giảm biên chế trong quân đội, trường Hậu cần Kỹ thuật giải tán, thành lập Trung tâm dịch vụ việc làm và khoa chuyên môn kỹ thuật sát nhập với trường Quân sự quân khu, đứng chân trên địa bàn phường 9 - TXVL; ghép lãnh đạo quản lý vào trung tâm dịch vụ việc làm. Theo quyết định số:1856/ QĐ-QP ngày 24 tháng 12 năm 1997 của Bộ Quốc Phòng do Trung tướng -Thứ trưởng: Trương Khánh Châu ký, trung tâm có nhiệm vụ:

1/ Tư vấn các chính sách về lao động và việc làm, hướng nghiệp và học nghề cung cấp thông tin và hướng dẫn người lao động học nghề và tạo việc làm tìm việc làm phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế.

2/ Tổ chức dạy nghề, bồi dưỡng tay nghề gắn với tạo việc làm, giới thiệu việc làm thực hiện cung ứng lao động, tuyển lao động cho các tổ chức và cá nhân có yêu cầu sử dụng lao động hợp pháp trong và ngoài nước

3/ Tổ chức sản xuất nhằm tạo việc làm tại chỗ và tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết hợp giữa dạy nghề và nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật .

Xét thấy yêu cầu đòi hỏi của xã hội ngày càng cao nhất là trình độ tay nghề lao động, mà khả năng của Trung tâm thì sẽ không đáp ứng được vấn đề đó do kinh phí, phạm vi chức năng đào tạo. Do vậy nhất thiết phải nâng cấp Trung tâm thành Trường Dạy nghề thì mới đáp ứng được đội ngũ nhân lực có tay nghề cao cho xã hội. Đảng uỷ Ban Giám Đốc đã giao cho đồng chí Võ Xuân Hưng – Trung tá - Phó chủ nhiệm khoa CMKT xây dựng đề án, và đến tháng 6/2002 Trường dạy nghề số 9 được thành lập theo quyết định số: 88/ 2002/ QĐ-BQP ngày 27 tháng 6 năm 2002 của Bộ Quốc Phòng do: Trung Tướng: Thứ trưởng Phùng Quang Thanh – Phó tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ký, Trường Dạy Nghề số 9 có chức năng nhiệm vụ:

1/ Chức năng : Dạy nghề chính quy dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề cho quân nhân xuất ngũ và các đối tượng chính sách xã hội.

2/ Nhiệm vụ :

-Tổ chức thực hiện dạy nghề chính quy dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề, gắn với đào tạo giới thiệu việc làm, cung ứng lao động, tuyển lao động cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu  sử dụng lao động hợp pháp trong nước và ngoài nước.

- Tổ chức sản xuất và dịch vụ nhằm tạo việc làm tại chỗ, tận dụng cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật,kết hợp giữa dạy nghề và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề, chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật.

-         Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ Quốc Phòng giao.

2/  Quá trình phát triển của trường dạy nghề số 9 qua các thời kỳ      

Ra đời trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh lãnh đạo, ngay từ những buổi đầu, với trang bị vật chất thô sơ, thiếu thốn, nhất là mô hình học cụ, trang thiết bị dạy học, khí hậu thất thường, thiên nhiên khắc nghiệt, trong điều kiện chiến tranh vô cùng ác liệt, địa bàn đóng quân rộng, không ổn định, đội ngũ giáo viên thiếu và chưa được đào tạo qua cơ bản….Nhưng cán bộ, học viên, chiến sỹ đã xác định tốt nhiệm vụ, vượt qua khó khăn gian khổ, nhanh chóng ổn định tổ chức, triển khai các lớp huấn luyện  chuyên môn Hậu cần- Kỹ thuật- y tá, y sỹ bảo đảm kịp thời cho chiến trường, những cố gắng đó đã góp phần cùng với toàn dân và toàn Quân ta đánh cho mỹ cút và đánh cho nguỵ nhào, giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất nước nhà., cả nước đi lên CNXH.

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta được hoàn toàn độc lập , Tổ quốc ta hoàn toàn thống nhất, nhưng kẻ thù vẫn chưa từ bỏ âm mưu phá hoại cách mạng nước ta, phá hoại nền độc lập chủ quyền của nước ta. Nhân dân ta lại phải tiếp tục cầm súng bảo vệ Tổ quốc trong 2 cuộc chiến tranh biên giới, rồi đất nước bước vào cuộc khủng khoảng kinh tế – xã hội  nặng nề, lại bị tác động gay gắt của cuộc khủng hoảng của phong trào xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ trên thế giới với việc sụp đổ của Liên xô và Đông Âu, lại nằm trong thế bao vây cấm vận và chống phá điên cuồng của các lực lượng thù địch, công cuộc đổi mới đang trên đà phát triển lại bị tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và tiếp đó là khủng hoảng kinh tế.

Thách thức tiếp liền thách thức. Song Đảng uỷ Ban Giám Hiệu nhà trường đã biết khai thác triệt để những thuận lợi, tranh thủ những thời cơ và cơ hội tốt, phát huy tất cả các nguồn lực, trên cơ sở tự giác, tự lực của các thành viên trong đơn vị, tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan cấp trên, chính quyền và nhân dân địa phương trên khu vực đóng quân, khai thác  những tiềm năng sẵn có để lãnh đạo Nhà trường vượt qua mọi thử thách, khó khăn, để tồn tại và phát triển

Đầu những năm 90 do yêu cầu tinh giảm biên chế của Quân đội, 3 trường được sát nhập nhưng vẫn thực hiện đào tạo số lượng đông cán bộ nhân viên chuyên môn hậu cần kỹ thuật bổ sung cho các đơn vị.      

Đến năm 1993 khi đất nước chúng ta thực hiện Nghị quyết Đại hội VII với cơ chế mở và đạt được nhiều thành tựu to lớn, đưa nước ta từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, nhưng tình hình kinh tế vẫn còn khó khăn, nhất là việc làm đối với người lao động, trong Quân đội hàng năm có hàng ngàn quân nhân hết hạn nghĩa vụ quân sự trở về địa phương nhưng không có tay nghề, chủ yếu bám vào nghề nông và lao động phổ thông, do vậy thu nhập thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn. Trươc tình hình đó, một lần nữa Nhà trường lại xung kích trong việc lập dự án đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho bộ độ xuất ngũ, dự án được chấp thuận, trung tâm xúc tiến việc làm được thành lập, mọi cán bộ chiến sỹ, CNV trong đơn vị nhận thức sâu sắc về tinh thần trách nhiệm, nên đã thực sự nổ lực phấn đấu, tìm nhiều biện pháp, có nhiều sáng kiến để thu hút và đào tạo nghề cho bộ đội xuất ngũ, thanh niên trong khu vực càng nhiều càng tốt, với quan điểm là vừa đào tạo nghề, giải quyết công ăn việc làm, vừa tạo hạt giống đỏ khi họ trở về địa phương làm ăn sinh sống.

 Có thể nói những năm qua là những năm phấn đấu gian khổ, nhưng cũng là những năm trưởng thành của Nhà trường. Kết quả đó được thể hiện:

 Nhà trường tiếp tục đào tạo nhiều nhân viên chuyên môn hậu cần kỹ thuật bảo đảm cho chiến trường trên địa bàn Quân khu 9 và mặt trận Kinh tế do Quân khu đảm nhiệm, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ Quốc tế cao cả. Đặc biệt trong những năm 80, Trường kỹ thuật đã thực hiện tốt nhiệm vụ vận tải phục vụ chiến trường K, do vậy năm 1990 đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất.

biên chế thường xuyên được kiện toàn, bằng nhiều hình thức và điều kiện cụ thể, đội ngũ cán bộ, nhân viên nhà trường được học tập, bồi dưỡng và đào tạo, nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ.

 Mô hình học cụ, trang thiết bị dạy học, chương trình đào tạo được quan tâm và từng bước được khắc phục, từ chỗ sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, nay đội ngũ giáo viên đã được trang bị kiến thức dạy học hiện đại; từ chỗ  dạy chay, học chay, nay  các ngành đều có mô hình học cụ, phương tiên dạy học tương đối hiện đại.

 Ngoài những nhiệm vụ thực hiện theo chức năng, khi được cấp trên giao Nhà trường sẵn sàng nhận và bằng mọi nổ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao như: mở các lớp tập huấn, nâng bậc, đăng cai nhiều lớp ngắn hạn, dài hạn, nuôi dưỡng và huấn luyện 2 đội bóng của Quân khu đạt thứ hạng cao…

 Thường xuyên quan tâm đến đời sống mọi mặt của cán bộ, chiến sỹ các thành viên trong đơn vị và hậu phương gia đình nên mọi người đều an tâm, gắn bó đơn vị, một lòng một dạ chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh và phát triển .

 Một số kêt quả về công tác đào tạo, tư vấn giới thiệu và giải quyết việc làm từ năm 1994 đến năm 2005

 1/ Đào tạo

TT

NĂM

Hệ Trung tâm

Hệ quốc phòng

GHI CHÚ

Riêng bộ đội xuất ngũ

        1     

1994

1340

1252

70

        2     

1995

1983

703

868

        3     

1996

1929

1024

426

        4     

1997

1785

893

528

        5     

1998

2262

871

627

        6     

1999

2425

650

120

        7     

2000

2471

949

327

        8     

2001

2807

1033

396

9

2002

3395

769

572

10

2003

4305

805

451

11

2004

5407

861

535

12

2005

4.809

895

581

 

Tổng cộng

34918

10705

5510

 2/Kết quả tư vấn giới thiệu việc làm từ 1994 đến 2005

TT

NĂM

SỐ LƯỢNG

GHI CHÚ BĐXN

        1     

1994

536

 

        2     

1995

1108

 

        3     

1996

1350

 

        4     

1997

1629

 

        5     

1998

2175

 

        6     

1999

3763

 

        7     

2000

4512

 

        8     

2001

9160

 

9

2002

6913

 

10

2003

17232

 

11

2004

8586

 

12

2005

12201

 

 

TỔNG CỘNG

60579

 

 II/ TRUYỀN THỐNG

 1/ Truyền thống Quân đội Nhân dân Việt Nam

1.1-    Trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, căm thù đế quốc và mọi lực lượng chống lại lợi ích của nhân dân.

1.2-    Quyết chiến quyết thắng, biết đánh, biết thắng. Dũng cảm mưu trí trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao động, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng .

1.3-    Gắn bó máu thịt với nhân dân lao động, hết lòng phục vụ nhân dân, tôn trọng học hỏi, giúp đỡ bảo vệ nhân dân, dựa vào dân mà hoạt động và phát triển, cùng nhân dân chiến đấu, thực hiện quân với dân một ý chí.

1.4-    Nội bộ đoàn kết chặt chẽ, cán bộ chiến sỹ thực sự bình đẳng về chính trị,  thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng.

1.5-    Kỷ luật tự giác nghiêm minh, thống nhất ý chí, thống nhất hành động .

1.6-    Tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ của công.

1.7-    Nếp sống cách mạng tốt đẹp, thấm nhuần chủ nghĩa tập thể, trung thực khiêm tốn, giản dị, lạc quan, có văn hoá.

1.8-    Luôn nêu cao tinh thần ham học, cầu tiến bộ, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị , bản lĩnh chiến đấu, năng lực công tác. Không ngừng vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật quân sự, làm chủ phương tiện, vũ khí , khí tài chiến đấu.

1.9-    Luôn nêu cao tinh thần quốc tê vô sản trong sáng, xây dựng truyền thống đoàn kết quốc tế thuỷ chung, son sắt, chí tình, chí nghĩa.

 2/ Truyền thống Trường dạy nghề số 9

 Qua nhiều năm gian khổ vừa huấn luyện đào tạo, vừa chiến đấu xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, Ban Giám Hiệu nhà trường, sự  quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên, sự đùm bọc giúp đỡ của nhân dân, chính quyền địa phương, Nhà trường đã không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, kế thừa những truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, xây đắp nên truyền thống của đơn vị:

 Đoàn kết chặt chẽ, dân chủ rộng rãi, tận tuỵ, cần, kiệm, liêm, chính, năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, luôn tự khẳng định được trong mọi điều kiện hoàn cảnh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 III/ XÂY DỰNG TRƯỜNG DẠY NGHỀ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC

 1/ Thách thức và cơ hội mới

 Vượt qua nhiều khó khăn thử thách để trưởng thành. Hiện nay Nhà trường ta đã có thêm thế và lực, khả năng và cơ hội để tiếp tục phát triển trong những năm tới (địa bàn, vị trí đóng quân, tổ chức biên chế; quy mô đào tạo, mức độ quan tâm đầu tư của Nhà nước, của Quốc phòng; đội ngũ cán bộ giáo viên…) đó là những điều kiện thuận lợi để chúng ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng uỷ; những nhiệm vụ được giao.

            Nhưng chúng ta cũng phải thấy rằng: tình hình thế giới đang có nhiều biến đổi phức tạp, trong khu vực cũng còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định. Trong nước  các thế lực thù địch đã và đang thay đổi thủ đoạn chiến lược chống phá cách mạng, các thủ đoạn chống phá của chúng rất thâm độc, xảo quyệt trên tất cả các lĩnh vực. Tình hình đó sẽ tác động không tốt đến đất nước  nói chung, và Nhà trường nói riêng. Nhà trường mới thành lập do vậy: đội ngũ cán bộ, giáo viên chưa đủ, một số chưa được hoàn thiện về kiến thức và phương pháp sư phạm

Nguồn kinh phí trên cấp hạn hẹp, cơ sở vật chất trang thiết bị huấn luyện, sinh hoạt trong tình trạng xuống cấp, một số ngành nghề mở rộng nên trang bị huấn luyện còn thiếu. Mặt khác do tác động của cơ chế thị trường, sự ràng buộc của hệ thống pháp luật và các, mặt khác: việc làm ăn kinh tế ngày càng khó khăn.

Đào tạo nghề đặc biệt là các nghề có điều kiện cạnh tranh cao vẫn là một bài toán khó, mặc dù đã tìm nhiều biện pháp, đổi mới về hình thức và nội dung, nhưng học viên về học chưa nhiều, giải quyết việc làm nhất là bộ đội xuất ngũ còn ít.      

Trên địa bàn mở ra nhiều trường dạy nghề, chắc chắn sẽ có sự cạnh tranh gay gắt mới cơ thể giữ được chất lượng và uy tín  đào tạo, cơ sở công nghiệp còn ít, quy mô nhỏ nên giải quyết việc làm gặp nhiều khó khăn, trong lúc đó xã hội yêu cầu lực lượng lao động có tay nghề cao, nhưng thực tế lực lượng đến học nghề có trình độ phổ cập phổ thông thấp.

 Trước thách thức và cơ hội mới, hơn lúc nào hết mọi thành viên trong đơn vị phải ra sức phát huy nội lực, vượt qua khó khăn thử thách, luôn năng động sáng tạo, tận tuỵ trong công việc, đẩy lùi thách thức, cần kiệm xây dựng nhà trường vững mạnh và phát triển

 2/ Mục tiêu nhiệm vụ Trường dạy nghề trong thời gian tới

 Ngoài chức năng, nhiệm vụ của trường dạy nghề số 9 được quy định tại  quyết định 88/2002/ QĐ-QP ngày 27 tháng 6 năm 2002 của BQP, Trường dạy nghề còn phải xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể trong điều kiện thực tế là: 

Trước hết chúng ta phấn khởi, nhưng nhận thức sâu sắc hơn về nhiệm vụ của Trường bước sang giai đoạn mới với yêu cầu cao hơn. Nhà trường xác định nằm trong mạng lưới trường dạy nghề cả nước, trường sẽ góp phần tích cực giải quyết vấn đề nghề nghiệp và việc làm cho xã hội nói chung; xác định đối tượng chính cần quan tâm là chính sách hậu phương quân đội; ổn định cho bộ đội sau khi xuất ngũ, con em các đối tượng chính sách, thanh niên ngoài quân đội… chưa có nghề nghiệp và việc làm trên địa bàn với chất lượng ngày một cao hơn.

            Đặc biệt trong những tới tiếp tục : đào tạo nhân viên chuyên môn hậu cần kỹ thuật cho quân khu, đảm nhiệm bổ túc, tập huấn, thi nâng bậc thợ các ngành kỹ thuật; đăng cai mở lớp đào tạo ngắn cán bộ chính trị cấp trung đoàn (Giai đoạn 1); Liên kết đào tạo các lớp trung cấp trong quân đội như : trung cấp vũ–khí–đạn, trung cấp ôtô, trung cấp tài chính.

            Hiện nay, trường đang phấn đấu với phương châm đào tạo theo nhu cầu, trong đào tạo lấy thực hành làm chính và phấn đấu trở thành trường dạy nghề chất lượng cao. Để trở thành trường dạy nghề chất lượng cao chúng ta  cần xác định việc xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên mạnh về số lượng và chất lượng là nhiệm vụ then chốt hàng đầu, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường trong mọi lúc, mọi nơi.

Để có chất lượng cao trong huấn luyện cần có :

        Đội ngũ cán bộ giáo viên công nhân viên chất lượng cao

        Đất đai rộng, đủ để triển khai các nội dung hoạt động của nhà trường;

        Xưởng trường phòng học khang trang;

        Trang thiết bị dạy nghề đầy đủ và hiện đại;

Hai yếu tố đầu trong tầm tay của chúng ta. Hai yếu tố sau đầu tư xây dựng cơ bản và trang thiết bị thời gian qua, chúng ta cũng cần hết sức cố gắng tự lực và đề nghị có sự quan tâm của cấp trên để có sức mạnh đẩy nhanh tốc độ trở thành trường dạy nghề chất lương cao. 

Về Dạy nghề và giải quyết việc làm cho bộ đội xuất ngũ

Tiếp tục chuẩn bị kỹ hơn về nội dung cần thông tin và đổi mới công tác tư vấn, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho các đồng chí có liên quan đến công tác tư vấn dạy nghề và giải quyết việc làm cho bọ đội xuất ngũ .

Tổ chức cho các bộ môn biên soạn lại nội dung huấn luyện trong hai tháng theo chương trình dạy nghề của Tổng Cục dạy nghề – Bộ Lao động thương binh xã hội mới ban hành, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên.

Tiếp tục nghiên cứu điều tra về ngành nghề đang có nhu cầu đào tạo và giải quyết được nhiều việc làm, để định hướng nhiệm vụ và tư vấn tốt cho bộ đội xuất ngũ.

Nghiên cứu mở rộng một số ngành nghề đặc thù, độc quyền, xã hội ít cạnh tranh.

Về  Công tác giải quyết việc làm :

Đào tạo cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ trong các lĩnh vực như: tiếp cận người sử dụng lao động, phỏng vấn, tư vấn nghề, hợp tác với các cơ sở đào tạo, nhận thức công cộng, quản lý nhân sự và phát triển nguồn nhân lực

 Quan hệ với nhiều đơn vị trong và ngoài Quân đội, nhất là các cơ sở sản xuất kinh tế, các doanh nghệp nhà nước và tư nhân để giải quyết nhiều hơn việc làm cho người lao động .

Tổ chức liên kết để xuất khẩu lao động có uy tín .

 IV/ GIỮ VỮNG VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG

Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, chúng ta vô cùng tự hào và biết ơn sự  cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ làm công tác quản lý, dạy học  đã vượt qua muôn vàn khó khăn , thử thách, tận tuỵ với công việc, luôn vì sự trưởng thành của nhà trường , luôn chủ động sáng tạo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi diều  kiện hoàn cảnh.

 Ngày nay, Trường chúng ta đang cùng toàn Đảng , toàn dân, và lực lượng vũ trang bước vào thời kỳ cách mạng mới , với nhiệm vụ hết sức quan trọng là : đào tạo lực lượng lao động có tay nghề cao cho xã hội , giải quyết việc làm cho bộ đội xuất ngũ và các đối tượng chính sách ; đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên môn hậu cần kỹ thuật, y dược cho Quân khu. Tổ chức đăng cai tập huấn các lớp ngắn và dài hạn gồm nhiều ngành nghề khác nhau do Quân khu giao.

 

Vì vậy việc giữ  vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Nhà trường là vinh dự và trách nhiệm, đồng thời  là nguồn sức mạnh to lớn giúp cho cán bộ , chiến sỹ, giáo viên, học viên thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định, xây đắp vào bề dày truyền thống và lịch sử tốt đẹp của đơn vị

 

Để giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp, truyền thống vẻ vang, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ , trong thời gian tới chúng ta phải:

-                 Triển khai sinh hoạt chính trị trong toàn trường nhằm tuyên truyền giáo dục sâu sắc lịch sử và truyền thống của Nhà trường qua các thời kỳ, làm cho cán bộ chiến sỹ hiểu rõ quá trình hình thành , phát triển của Nhà trường. Trên cơ sở đó, xây dựng lòng tự hào , sự gắn bó và ý thức trách nhiệm đối với việc xây dựng và phát huy bản chất truyền thống của Trường. Đồng thời quán triệt sâu sắc quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng uỷ, Ban Giám Hiệu đối với nhiệm vụ đào tạo, dạy nghề,  giới thiệu và giải quyết việc làm trong tình hình mới, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao .

-                 Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học, tăng cường thực hiện dân chủ và ý thức chấp hành kỷ luật của các thành viên, xây dựng Nhà trường chính quy, vững mạnh toàn diện, đạt được mục tiêu xây dựng Nhà trường thành trường dạy nghề chất lượng cao.

-                     Ra sức học tập rèn luyện nâng cao năng lực, trình độ mọi mặt: chính trị , quân sự, văn hoá, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà trường trong thời kỳ mới , thời kỳ CNH-HĐH.

-                 Xây dựng trách nhiệm chính trị ,chủ động sáng tạo, phát huy nội lực, tự lực, tự cường, xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch lành mạnh, xây dựng môi trường văn hoá mới, đẩy mạnh các hoạt động của phong trào thi đua quyết thắng có hiệu quả .

-                 Nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác dân vận, quan hệ mật thiết với chính quyền và nhân dân địa phương, xây dựng đơn vị an toàn và địa bàn chính trị an toàn.

-                 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ các cấp, kịp thời kiện toàn và  ổn định tổ chức , tăng cường và giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng , nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp uỷ các cấp , thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong giai đoạn mới .

-                 Giữ vững đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, xây dựng tinh thần tương thân tương ái, tinh thần làm chủ trong đơn vị .

 

 

V/ THÀNH TÍCH

Do có nhiều thanh tích đào tạo, phục vụ chiến trường, tư vấn, giải quyết việc làm , nên Trường dạy nghề đã được Bộ Tư Lệnh Quân Khu IX và Bộ Quốc Phòng tặng :

 
 

 

 

-       02 Huân chương chiến công hạng nhất của Nhà nước tặng :1990

-       Cờ thi đua của BTL QK IX tặng ( 2000; 2001; 2002; 2003; 2004; 2005)

( Cờ thi đua 2004 số 488/QĐ-KT ngày 15 tháng 12 năm 2004)

-   Đảng ủy Quân sự Trung ương tặng cờ  : tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu năm 2001-2005- Bằng khen về thành tích đổi phát thẻ Đảng viên.

-       Bằng khen Thủ tướng Chính Phủ tháng 1/2004

-       Bằng khen Bộ Lao Động Thương Binh & xã hội năm 2001 Về tổ chức dịch vụ việc làm ( 1996 - 2000)

-       15 Bằng khen của Bộ Tư Lệnh Quân khu 9 về hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ các năm 85;86;87;887;89; 90; 91;92;93;94;95;96;97;98;99

-       01 Bằng khen của Bộ Quốc Phòng năm 2000 về tổ chức đào tạo và giới thiệu việc làm.( 1996 - 2000)

-       Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Ba

-       3 Bằng khen của BTL Quân khu 9 về thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng môi trường văn hoá 1992-2002 ; thực hiện cuộc vận động 50 năm 2003; thực hiện phong trào thi đua ngành hậu cần làm theo lời Bác 1995- 2002.

-        

Nhà trường được UBND Tỉnh Vĩnh long tặng bằng khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo nghề năm 2004 ( số 160/QĐ-UB ngày 25 tháng 1 năm 2005

 

-       Trung ương đoàn công nhận Đoàn cơ sở trường dạy nghề số 9  dẫn dầu 3 năm liền phong trào thi đua khối lực lượng vũ trang năm 2003 - 2005

-       Bằng khen của BTL QK 9 tặng Công đoàn cơ sở và hội phụ nữ cơ sở 1998; 1999;2000;2001; 2002 .

-       Bằng khen của UBND TỈnh Vĩnh Long về hội thi giáo viên dạy nghề giỏi Tỉnh vĩnh long năm 2003

-       Tham gia hội diễn nghệ thuật quần chúng do QK tổ chức đạt giải nhất năm 1992; 1995; 1997; năm 2000 đạt giải khuyến khích; 2002;2005 huy chương bạc; tham gia tại vĩnh long 1993 đạt  giải đặc biệt; 2002 đạt huy chương vàng

-       Đội bóng chuyền hạng nhất Quốc gia của Qk do Trường nuôi dưỡng và huấn luyện được thăng hạng lên năm 1997 và 2000.

-       12 năm liền là Đảng bộ trong sạch vững mạnh;

-       Bằng khen tổ chức cơ sở Đảng TSVM nhiệm kỳ đại hội Đảng toàn quốc 1996- 2000 ( tặng năm 2001)

-       Hội thi lái xe giỏi toàn quân năm 2000  2 giáo viên đạt lái xe giỏi

2/ C.N: Phan Ngô Trọng Bảo -  CNV:Nguyễn Duy Tuấn

-       Hội thi giáo viên dạy lái xe giỏi năm 2001 ở Nha Trang 3 giáo viên đạt giáo viên dạy lái xe giỏi toàn quân

    CNV: Đỗ Hoàng Thành - CNV : Nguyễn Duy Tuấn - 3/ Lâm Thanh Ngôn

-         Hội thi giáo viên dạy nghề giỏi lần thứ 1 tại Cần thơ : tháng 8 năm 2002 : Tâp thể đạt giải nhì/ 23 đội tham gia : 5 giáo viên tham gia đều đạt giải

                        Nhất : Đỗ Hoàng Thành

Nhì : Lâm Thanh Ngôn

                                    Trịnh Hồng Sơn

Ba : Nguyễn Duy Tuấn

                             Nguyễn Thanh Hoàng

Thi báo cáo viên tháng 11 năm 2002 đạt giải 3/31 đội (4/ Nguyễn Văn Hiền)

Thi an toàn vệ sinh viên giỏi Công đoàn đạt giải khuyến khích năm 2002

 Thi giáo viên dạy nghề giỏi tại Tỉnh vĩnh long tháng 12 năm 2002 có 8 giáo viên dự thgi ; 7 giáo viên đạt giáo viên dạy nghề giỏi; 1 giáo viên đạt giải nhất; 2 giáo viên đạt giải nhì

            Nhất : CNV : Lê Thị Hợp

Nhì : 4/C.N : Trần Văn Tám - 4/C.N : Phan Ngô Trọng Bảo

 

Tham gia hội thi giáo viên dạy nghề giỏi toàn quốc tổ chức tại Cần thơ từ ngày 14/7 đến 21/7/2003 trường dạy nghề số 9 cử 3 giáo viên tham gia gồm:

1/ Lâm Thanh Ngôn : đại uý C.N - Khoa lái xe : đại diện cho Tỉnh Cần thơ - Thi môn thực hành lái xe : Kết quả đạt giải nhất - được thưởng : 2000.000 đồng

2/ Lê Thị Hợp : Thượng uý C.N - Giáo viên khoa hậu cần : Đại diện cho  Tỉnh Vĩnh Long - Tham gia thi môn Nguyên tắc ghi sổ kép : Kết quả đạt giả nhì  - được thưởng : 700.000 đồng

3/ Trần Văn Tám : Đại uý C.N - Khoa lái xe - đại diện cho Tỉnh vĩnh long - Tham Gia thi môn thực hành lái xe : Kết quả đạt giải 3 - được thưởng 500.000 đồng.

Ngoài việc được ban tổ chức giải trao phần thưởng - Nhà trường còn thưởng bằng số tiền ban tổ chức thưởng và thêm 1 tháng lương tổng thu nhập cho 3 giáo viên trên + ban huấn luyện gồm : Võ Xuân Hưng và Lê Ngọc Anh

Tham gia thi giáo viên dạy giỏi cấp quân khu tổ chức từ ngày 4 đến ngày 6/8 /2002 tại trường quân sự quân khu có 4 giáo viên dự thi ccá chuyên ngành :

1/ Lê thị hợp : Giáo viên tài chính - Thi chuyên ngành tài chính- kết quả đạt giáo viên dạy giỏi chuyên ngành

2/ Trần Ngọc Quang : Giáo viên khoa quân khí - Tham gia thi ngành quân khí- kết quả đạt giáo viên dạy giỏi chuyên ngành

3/ Huỳnh Văn Hùng : y sỹ - Tham gia thi chuyên ngành y _ kết quả đạt giáo viên dạy giỏi chuyên ngành

4/ Huỳnh Văn Thuật - giáo viên khoa lái xe - tham gia thi chuyên ngành dạy lái xe : Kết quả đạt giáo viên dạy giỏi chuyên ngành.

 

Tham gia Hội thi tìm hiểu luật giao thông do quân khu tổ chức tháng 9 năm 2003 đoàn của Nhà trường gồm 4 đồng chí tham gia ( Mai - Vinh - An - Bảo) đạt giải nhì  được tặng giấy khen và 400.000 đồng

 

Công đoàn cơ sở được tổng cục chính trị tặng bằng khen về tổng kết phong trào 5 nhất, 3 không từ năm 2000-2003; được quân khu tặng giấy khen về phong trào sáng kiến cải tiến.

 

Công đoàn dự thi tìm hiểu " công đoàn qua các kỳ đại hội" tổ chức năm 2003 đạt 2 giải : 1 giả nhì ( Nguyễn Thị Minh) 1 giải ba ( Hoàng Thị Hào)

Năm 2004 : Công đoàn được Tổng liên đoàn tặng bằng khen

Phụ nữ được Tổng Cục chính trị tặng bằng khen-2004

Thanh nhiên được Trung ương đoàn tặng bằng khen: 2004

           

Năm 2005 :

-    Công đoàn được tặng cờ thi đua 5 nhất 3 không –Tổng cục chính trị

-       Phụ nữ  được tặng bằng khen – Tổng cục chính trị

-       Thanh niên được tặng cờ  – Trung ương Đoàn.

-       Hội thi dạy lái xe giỏi toàn quân tổ chức tháng 7/2005 – tại Trường Dạy Nghề số 9: Nhà trường đạt giải nhất toàn đoàn; 4 cá nhân dự thi đều đạt giáo viên dạy lái xe giỏi toàn quân.

 Giải nhất : Trần Văn Tám

 Giải nhì : Nguyễn Duy Tuấn

-   Hội thi giáo viên dạy nghề giỏi Tỉnh Vĩnh Long : tháng 8 năm 2005

Có 4/4 giáo viên tham gia đều đạt giỏi, có 1 giải nhất,1 giải nhì và 2 giải 3, nhà trường đạt giải nhất toàn đoàn.

Giải nhất : Vũ Minh Hoài

Giải nhì : Nguyễn Văn Minh, Đặng Trường Dũng

Giải ba: Đặng Văn Huyên

Nhà trường được công nhận đơn vị có môi trường văn hoá tốt 2003-2005

Tham gia Hội diễn NTQC Quân khu được tặng Bằng khen

 

Năm 2006: Được BTL Quân khu tặng cờ “Đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng”

Được UBND tỉnh Hậu Giang tặng bằng khen về tác dạy nghề nông thôn

Hội Phụ nữ được Cục Chính trị tặng bằng khen

 

Năm 2007: Được BQP tặng Bằng khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2007

Được UBND tỉnh Hậu Giang tặng bằng khen về tác dạy nghề nông thôn

 

Năm 2008: Được BTL Quân khu tặng danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng”

Tham gia Hội thi giáo viên dạy nghề giỏi tình Vĩnh Long 4/4 đồng chí đều đạt giải (Trong đó có 3 giải nhất, 1 giải 3)

Tham gia Hội diễn NTQC Quân khu được tặng cờ xuất sắc

Năm 2009: Được BTL Quân khu tặng cờ “Đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng”

Được BTL Quân khu tặng cờ “Đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng giai đoạn 2006 – 2009”

Tham gia Hội thi Giáo viên dạy nghề giỏi toàn quốc 3/3 đồng chí đều đạt giải (2 giải 3 và 1 giải khuyến khích)

Tham gia Hội thi Tiếng hát chiến sỹ được tặng cờ xuất sắc.

 Năm 2010: Được Tổng Cục Chính trị tặng bằng khen về thành tích tham gia chương trình “Chúng tôi là Chiến sỹ” của đài THVN

 DANH SÁCH TRÍCH NGANG BAN GIÁM HIỆU CỦA NHÀ TRƯỜNG QUA CÁC THỜI KỲ

TT

Họ và tên

Cấp bậc

Chức vụ

Thời gian giữ chức

 

Ghi chú

1

Dương Đình Lương

Đại tá

-         Hiệu trưởng trường hậu cần kỹ thuật Quân khu 9

-         Hiệu trưởng trường hậu cần quân khu 9

11/1978 đến 12/1980

1/1981 đến 08/1987

 

2

Nguyễn Công Hầu

Đại tá

Phó hiệu trưởng –TMT- Trường hậu cần

8/1980 đến 3/1984

9/1984 đến 9/1988

 

 

Lâm Hữu Phước

Đại tá

Hiệu trưởng  trường hậu cần

8/87 - 3/1991

 

3

Đại tá

Bí thư đảng uỷ - Hiệu phó – TMT trường HCKT

4/1991 đến 5/1992

 

Đại tá

Hiệu trưởng THCKT

5/1995 đến 7/1998

 

 

Giám đốc trung tâm dịch vụ việc làm Quân khu 9

8/1988 đến 7/2000

 

4

Nguyễn Văn Bửu

Trung tá

Phó hiệu trưởng chính trị – Bí thư đảng uỷ trường hậu cần

…………………………………………………

…………………………………………………

 

5

Lê Văn Trạc

2//

Phó hiệu trưởng TMT – Trường hậu cần

-Phó hiệu trưởng hậu cần trường HCKT

-1990-1991

-1991 - 1995

 

6

Nguyễn Văn Hội

4//

-Hiệu trưởng trường kỹ thuật

-Hiệu trưởng trường HCKT-Kiêm Giám đốc trung tâm xúc  tiến việc làm.

- 08/1980 đến 3/1991

- 4/1991 đến 6/1996

 

 

7

Phan Văn Lễ

4//

-         Phó hiệu trưởng trường HCKT

-         Phó Giám Đốc trung tâm dịch vụ việc làm

-         Giám đốc trung tâm dịch vụ việc làm

-         Hiệu trưởng trường dạy nghề số 9

-1993-7/1998

-8/1998-8/ 2000

-9/ 2000-5/2002

-6/2002- 6/2004

 

8

 

Phạm Thanh Ngọ

 

4//

 

-     Phó giám đốc chính trị Trung tâm dịch vụ việc làm

-         Phó Hiệu trưởng chính trị – BTĐU-Trường  số 9

 

 

-9/1999-5/2002

-6/2002 - nay

 

9

Nguyễn Văn Hoàng

3//

-         Phó Hiệu trưởng trường HCKT

-         Phó Giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm

-         Phó Hiệu trưởng – Trường dạy nghề số 9

-         Hiệu trưởng trường dạy nghề

-1997- 7/1998

-8/1998 – 5/2002

-6/2002 – 6/2004

-7/2004 đến nay

 

10

Nguyễn Hữu Sáng

1//

Phó hiệu trưởng chính trị trường kỹ thuật

1984 – 1985

 

11

Nguyễn Hữu Tâm

3//

Phó Hiệu trưởng chính trị - trường kỹ thuật

1987-1988

10 Tâm

12

Mai Văn Giàu

2//

Phó Hiệu trưởng - trường kỹ thuật

1981 –1987

9 Giàu

13

Nguyễn Văn Trọng

2//

Phó Hiệu trưởng- TMT-trường HCần kỹ thuật

1988 –1992

3 trọng

14

Âu Văn Năm

2//

Phó Hiệu trưởng- TMT-trường kỹ thuật

1981-1987

5 Âu

15

Nguyễn Văn Nam

2//

Phó Hiệu trưởng- trường kỹ thuật

1980-1985

4 Nam

16

Nguyễn Đức Tính

2//

Phó Hiệu trưởng- trường kỹ thuật

1981-1987

5 Tính

17

Lại Viết Duyên

3//

Hiệu trưởng trường quân y

 

4 Duyên

18

Vũ Hoài Nam

 

Phó Hiệu trưởng chính trị - trường kỹ thuật

1986 -1987

8 Hoài Nam

19

Nguyễn Thanh Tùng

2//

Phó hiệu trưởng-TMT trường hậu cần

1988-1989

10 Tùng

20

Lương Tấn Tường

3//

Phó hiệu trưởng trường kỹ thuật

1979- 1987

 

21

Huỳnh Minh Huệ

4//

Phó hiệu trưởng chính trị – Trường kỹ thuật

1988-1989

 

22

Lê Văn Giàu

2//

-Phó hiệu trưởng chính trị – trường hậu can

- Phó hiệu trưởng chính trị trường HCKT

-1988-3/1991

- 4/1991- 1992

 

23

Nguyễn Minh Tuyên

2//

Phó Hiệu trưởng TMT trường kỹ thuật

1987-1988

 

24

Nguyễn Văn Mực

3//

Phó hiệu trưởng kỹ thuật – trường kỹ thuật

Phó hiệu trưởng kỹ thuật – trường Hậu cần kỹ thuật

-…………………………..………

-…………………..………………

 

25

Đào Văn Non

3//

Phó hiệu trưởng – Trường hậu cần kỹ thuật

 

1994- 1997

 

 

Võ Xuân Hưng

3//

-         Phó hiệu trưởng trường dạy nghề số 9

6/2005

 

26

 Mai Tiền Hạnh

 

-         Phó hiệu trưởng trường quân y Quân khu 9

-         Hiệu trưởng trường quân y Quân khu 9

-…………………………..………

-…………………..………………

 

 

…………………………………..Vỹ

 

-Hiệu trưởng trường quân y Quân khu 9

-…………………………..………

-…………………..………………

 

 

 

 

 

Additional information